image banner
Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - Chiến công vĩ đại của thế kỷ XX
Lượt xem: 0

Cách đây 51 năm, chiến thắng lịch sử ngày 30/4/1975 đã khép lại chặng đường 30 năm (1945–1975) chiến đấu gian khổ giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Đỉnh cao của cuộc kháng chiến này là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, diễn ra từ ngày 26 đến 30/4/1975, đã giáng đòn quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là thành quả vĩ đại của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử chói lọi, hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Quân và dân ta đã anh dũng đánh bại những kẻ thù hùng mạnh, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, kết thúc 21 năm chia cắt đất nước (1954–1975), mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sáng 15/5/1975, hàng triệu nhân dân Sài Gòn – Gia Định đổ về quảng trường trước trụ sở Ủy ban Quân quản thành phố để dự Lễ mừng chiến thắng.


Bức tranh tổng quan
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ trở nên hùng mạnh và thực hiện chiến lược toàn cầu chống lại phong trào cách mạng và chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là tại Đông Nam Á. Với vị trí chiến lược của Việt Nam, đế quốc đã can thiệp vào chiến tranh Đông Dương (từ những năm 50 của thế kỷ XX), giúp Pháp và sau đó thay thế chế độ thực dân, vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, lập khối quân sự Đông Nam Á và xâm chiếm miền Nam nhằm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và các nơi trên thế giới.

Mục tiêu cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng xã hội chủ nghĩa và cuộc sống hòa bình, ấm no. Vào ngày 14/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới”, từ đó, Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Nhân dân ta.

Thắng lợi qua các chiến dịch và Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (ngày 07/05/1954), đã buộc chế độ thực dân phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, đình chỉ chiến sự và công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, đất nước tạm thời chia cắt với vĩ tuyến 17 làm ranh giới, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc, nhưng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và “Nước Việt Nam là một”, toàn thể dân tộc quyết tâm đánh bại chế độ đế quốc, hoàn thành mục tiêu thống nhất Tổ quốc.

Những bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược

Giai đoạn từ tháng 07/1954 đến hết năm 1960

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, việc ngừng bắn và tổng tuyển cử để thống nhất đất nước phải hoàn thành trong vòng hai năm. Tuy nhiên, đế quốc, thực dân và chính quyền Ngô Đình Diệm đã tìm cách phá hoại Hiệp định, gây khó khăn cho việc thi hành bằng cách khiêu khích, cưỡng ép di cư, phá hoại tài sản công cộng và xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đế quốc thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đàn áp phong trào yêu nước và biến miền Nam thành nhà tù. Sau cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân, Đảng ta xác định đế quốc là kẻ thù chính, trực tiếp đối đầu với nhân dân Đông Dương. Lúc này, Trung ương Đảng đã cử cán bộ ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào đấu tranh, đồng thời chuyển quân, đưa cán bộ miền Nam ra Bắc học tập, chuẩn bị lực lượng cho cuộc giải phóng miền Nam và tái thiết đất nước.

Tại miền Bắc, Đảng ta đã chỉ đạo các biện pháp nhằm nhanh chóng ổn định, sớm tổ chức cuộc sống mới sau chiến tranh. Sau kế hoạch 03 năm (1955 - 1957) khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh, cùng kế hoạch 3 năm (1958 - 1960) cải tạo xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ bóc lột, đồng thời bước đầu xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội theo con đường chủ nghĩa xã hội.

Đối với miền Nam, mặc dù cuộc đấu tranh rất khó khăn và ác liệt, nhân dân vẫn một lòng theo Đảng, chống áp bức và bảo vệ lực lượng cách mạng. Đến tháng 01/1959, Nghị quyết Trung ương 15 đề ra chủ trương từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính quyền về tay nhân dân. Đây là bước ngoặt quan trọng, khơi dậy cao trào Đồng Khởi (1959 - 1960), mở đầu cho những thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước.

Giai đoạn từ năm 1961 đến giữa năm 1965

Đầu năm 1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, sử dụng lực lượng ngụy Sài Gòn kết hợp với vũ khí và cố vấn của Mỹ để chiến đấu. Đế quốc áp dụng chiến thuật càn quét, đưa 10 triệu nông dân miền Nam vào “Ấp chiến lược” để tách biệt lực lượng cách mạng với nhân dân. Để đối phó, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về công tác cách mạng miền Nam (ngày 31/01/1961) và các tổ chức vũ trang miền Nam thống nhất thành “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam” (ngày 15/02/1961). Ở miền Bắc, phong trào thi đua “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” giúp củng cố căn cứ cách mạng và tăng cường chi viện cho miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chuyển sang giai đoạn chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh vũ trang và chính trị, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc. Đến ngày 02/01/1963, chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) đã đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của địch, thúc đẩy phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”. Từ năm 1964-1965, quân dân miền Nam liên tiếp giành thắng lợi trong các chiến dịch, như: Bình Giã (1964-1965), Ba Gia (1965), Đồng Xoài (1965)… đánh bại nhiều cuộc hành quân của địch.

Đến ngày 05/08/1964, đế quốc mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm ngăn chặn sự chi viện của “hậu phương lớn” miền Bắc cho “tiền tuyến lớn” miền Nam. Tuy nhiên, nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, quân và dân ta đã kịp thời phát hiện và đánh bại kẻ thù. Trước những thắng lợi ở cả hai miền, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc thất bại, buộc họ phải đưa quân đội viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đánh dấu giai đoạn mới của cách mạng miền Nam.

Giai đoạn từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968

Chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đế quốc sử dụng quân đội của họ để tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, đồng thời dùng quân đội ngụy Sài Gòn để kìm kẹp nhân dân, với mục tiêu đánh bại cách mạng miền Nam trong 25-30 tháng (từ gữa năm 1965 đến hết năm 1967); đồng thời, tiếp tục chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Đến ngày 20/07/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi, dù phải chiến đấu trong nhiều năm. Trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (ngày 17/07/1966), Người khẳng định “… Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, Nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã đánh bại quân của đế quốc ngay từ những trận đầu khi chúng vừa đổ bộ vào, tiếp tục giành thắng lợi oanh liệt ở nhiều chiến trường, như: Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bàu Bàng… Ta cũng đánh bại 03 cuộc hành quân lớn của kẻ thù ở miền Đông Nam Bộ và các chiến trường khác (Tây Nguyên, miền Tây khu V, Đường 9, đồng bằng Nam Bộ). Ở miền Bắc, quân dân ta tiếp tục đánh trả chiến tranh phá hoại của đế quốc bằng không quân và hải quân, bảo đảm giao thông và chi viện cho miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn mạnh vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của kẻ thù, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và đàm phán tại Hội nghị Paris (ngày 27/01/1973), mở ra cục diện mới vừa đánh vừa đàm.

Giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1973

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc bị phá sản, buộc họ phải thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Lào; tiến hành chiến tranh hủy diệt và áp dụng nhiều thủ đoạn để làm suy yếu kháng chiến của nhân dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Tuy nhiên, quân và dân ta phối hợp với quân dân Lào, Campuchia từng bước đánh bại chiến lược này của kẻ thù. Những thắng lợi của ba nước Đông Dương trong 02 năm (1970 – 1971) đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của nhân dân ta.

Nhờ chuẩn bị tốt lực lượng và nắm bắt thời cơ, quân và dân ta giành nhiều thắng lợi lớn trên chiến trường, đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc bằng máy bay B52 của đế quốc, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” thay đổi cục diện chiến trường, cục diện chiến tranh theo thế có lợi cho ta. Trong đàm phán, ta khéo léo kết hợp giữa “đánh và đàm”, buộc đế quốc ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi miền Nam và thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta, tạo điều kiện cơ bản để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành thắng lợi cuối cùng.

Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến năm 1975

Sau khi ký Hiệp định Paris, dù phải rút quân nhưng đế quốc vẫn tiếp tục sử dụng chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn làm công cụ chiến tranh. Chúng tăng cường viện trợ tiền, vũ khí cho quân ngụy để chiếm đất, khống chế nhân dân và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Đến tháng 05/1973, quân ngụy Sài Gòn ngày càng tăng cường phá hoại Hiệp định Paris.

Tháng 07/1973, Hội nghị lần thứ 21 BCH Trung ương Đảng ra Nghị quyết về thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc và nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết khẳng định “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” và đề ra các nhiệm vụ lớn cho hai miền Nam - Bắc. Thắng lợi toàn miền, đặc biệt là chiến thắng Phước Long (cuối năm 1974 - đầu năm 1975), càng cho thấy quân ngụy Sài Gòn suy yếu, đế quốc khó đưa quân trở lại Việt Nam. Đảng ta quyết định mở cuộc tiến công chiến lược, giải phóng miền Nam và giành lại chủ quyền các vùng biển, đảo phía Nam. Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bắt đầu (từ ngày 04/03/1975), với các chiến dịch, như: chiến dịch Tây Nguyên (đột phá Buôn Ma Thuột từ ngày 04 – 18/03/1975), chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng (từ ngày 26 – 29/03/1975), chiến dịch Hồ Chí Minh (giải phóng Sài Gòn - Gia Định từ ngày 26 – 30/04/1975).

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26/4 - 30/4/1975)

Sau một tháng Tổng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta giành thắng lợi lớn cả về chính trị và quân sự. Trong khi đó, địch mất toàn bộ Quân khu 1, Quân khu 2, một nửa sinh lực của Quân đội Sài Gòn bị tiêu diệt, rơi vào tình thế đi đến tan rã. Chúng ra sức tổ chức phòng ngự, tập trung bảo vệ Sài Gòn để làm điều kiện mặc cả với ta. Sau các thất bại khi xây dựng các tuyến phòng thủ từ xa, quân ngụy Sài Gòn tập trung vào phòng thủ cuối cùng ở Sài Gòn - Gia Định.

Nhận định rằng dù Mỹ có chi viện cũng không thể cứu quân ngụy, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công giải phóng Sài Gòn trong tháng 04/1975, trước mùa mưa. Ngày 07/04/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa” để giải phóng miền Nam. Đến ngày 14/04, Bộ Chính trị đồng ý tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Các lực lượng chiến lược tham gia gồm 04 quân đoàn, Đoàn 232 và các đơn vị binh chủng - tăng thiết giáp, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, không quân, hải quân cùng các lực lượng biệt động, bộ đội địa phương, dân quân du kích.

Xe tăng của Lữ đoàn tăng - thiết giáp 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975.

Đến 17 giờ, ngày 26/04/1975, quân ta được lệnh tổng công kích; 05 cánh quân đồng loạt tiến công trên 05 hướng: Hướng Bắc - Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng); hướng Tây Bắc - Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên); hướng Đông Nam - Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang); hướng Đông - Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long); hướng Tây và Tây Nam - Đoàn 232 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8), nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch. Trước cuộc tiến công như vũ bão của quân và dân ta, vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30/04/1975, quân ta đánh chiếm Dinh Độc Lập, chính quyền ngụy Sài Gòn đầu hàng không điều kiện, cờ giải phóng phấp phới tung bay trên nóc tòa nhà chính của Dinh Độc Lập. Từ đây, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam thống nhất một dải.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, hoàn thành mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chấm dứt 21 năm chia cắt đất nước và đưa đến sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Thắng lợi này, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả vĩ đại nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, và xây dựng một Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam là dịp để nhân dân cả nước ôn lại những trang sử hào hùng, nhìn nhận chặng đường phát triển đất nước, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn về những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh, làm động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, hướng tới sự phát triển phồn vinh và thịnh vượng./.

Space;

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ VĂN LANG TỈNH THÁI NGUYÊN
Cơ quan chủ quản: UBND XÃ VĂN LANG
Địa chỉ: Thôn Nà Làng, xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại: 0209 3883021
Email: vanlang2@thainguyen.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Hoàng Thị Liên
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ website này./.